Nâng cao năng lực cho các tổ chức hoạt động trong ngành công nghiệp môi trường (P3)

  • Dịch vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường: Khác với dịch vụ giám định về môi trường đối với máy móc, thiết bị, công nghệ không có doanh nghiệp đăng ký tham gia cung cấp dịch vụ vì chưa có hành lang pháp lý, lĩnh vực thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đã có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tư nhân tham gia cung cấp dịch vụ thông qua quy định tại Quyết định số 19/2007/QĐ-BTNMT ngày 26 tháng 11 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành quy định về điều kiện và hoạt động dịch vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường. Tuy nhiên, hiện nay không có các doanh nghiệp đăng ký kinh doanh loại hình dịch vụ thẩm định báo cáo đánh tác động môi trường do nhu cầu thị trường về dịch vụ này không phát triển. Các đối tượng khách hàng thường lựa chọn cơ quan nhà nước để gửi hồ sơ đề nghị thẩm định do tư tưởng sẽ gặp nhiều thuận lợi khi cơ quan thẩm định và cơ quan phê duyệt là một. Do đó, trong thời gian tới, để giảm bớt sự quá tải cho các cơ quan nhà nước trong quá trình thẩm định, đồng thời huy động được sự tham gia của các tổ chức tư nhân có đội ngũ chuyên gia giỏi vào hoạt động thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, cần có các quy định, chính sách hỗ trợ mạnh mẽ hơn nữa để khuyến khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong quá trình tham gia cung cấp dịch vụ.

    Dịch vụ thiết kế, chế tạo, xây dựng hệ thống xử lý chất thải: Theo số liệu điều tra, khảo sát tại 493 doanh nghiệp, tỷ lệ các doanh nghiệp thực hiện cung cấp dịch vụ thiết kế, chế tạo, xây dựng hệ thống xử lý chất thải chiếm 43%; trong đó doanh nghiệp nhà nước chiếm 7%, doanh nghiệp cổ phần chiếm 24%, doanh nghiệp tư nhân chiếm 67%, còn lại 2% là các doanh nghiệp khác, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ lệ lớn đến 98%, doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực này chỉ chiếm khoảng 2%. Đặc thù của doanh nghiệp là cung cấp sản phẩm tư vấn và công nghệ do đó nhân sự của các doanh nghiệp này có trình độ chung khá cao (đại học và trên đại học). Đối với một số công ty có cung cấp dịch vụ thi công thì sẽ có một đội ngũ công nhân với trình độ học vấn tối thiểu là tốt nghiệp phổ thông trung học nhưng đội ngũ quản lý thì đều có bằng kỹ sư hoặc cao hơn. Hiện nay tất cả các dịch vụ thi công xử lý chất thải các doanh nghiệp Việt Nam đều có thể đáp ứng được từ con người đến máy móc thi công, tuy nhiên đối với dịch vụ thiết kế, chế tạo hệ thống xử lý của nhiều dự án lớn thường lựa chọn các doanh nghiệp có vốn nước ngoài.  

    Dịch vụ thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải: Dịch vụ thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải có thể hiểu là các dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn (chất thải rắn thông thường, chất thải rắn nguy hại); thu gom, xử lý nước thải; xử lý khí thải; tái chế chất thải. Hiện nay, theo số liệu điều tra, khảo sát các doanh nghiệp tham gia vào loại hình dịch vụ này chiếm tỷ lệ tương đối lớn, chiếm 45% tổng số doanh nghiệp dịch vụ môi trường được khảo sát.

    Đối với dịch vụ thu gom, xử lý rác thải thông thường, loại hình doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hiện nay chủ yếu là các công ty TNHH nhà nước một thành viên, doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa, các Công ty tư nhân tham gia còn ít vào mảng dịch vụ này. Ở Việt Nam, mỗi tỉnh, thành phố đều có một công ty chuyên trách cung cấp loại dịch vụ thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt. Các doanh nghiệp này có số lượng nhân viên đông đảo từ 200 (đối với các tỉnh, thành miền núi, Tây Nguyên) đến 1000 nhân viên (tập trung tại các thành phố loại 1, tỉnh lớn phát triển về kinh tế xã hội), phần lớn (80% là lao động thủ công). Gần đây đã bắt đầu xuất hiện các doanh nghiệp tư nhân đầu tư cung cấp dịch vụ tại các khu vực quận, huyện không thuộc vùng bao phủ dịch vụ của doanh nghiệp thuộc Nhà nước. Các doanh nghiệp tư nhân này có quy mô nhỏ hơn hẳn, số lượng nhân viên chỉ từ 20-30 người, trong đó số lao động thủ công cũng vào khoảng 85%. 

    Dịch vụ khắc phục và cải tạo môi trường:  Dịch vụ khắc phục và cải tạo ô nhiễm đất: hiện nay dịch vụ này chủ yếu do các đơn vị sử dụng vốn ngân sách nhà nước, tổ chức được tài trợ từ nguồn vốn quốc tế thực hiện. Dịch vụ khắc phục và cải tạo ô nhiễm nước: các doanh nghiệp DVMT đa số mới chỉ cung cấp dịch vụ xử lý nước thải trước khi đổ ra nguồn tiếp nhận, còn đối với các nguồn nước đã bị ô nhiễm thì rất ít doanh nghiệp DVMT có thể cung cấp dịch, phần lớn là do công ty môi trường đô thị các tỉnh, thành phố tiến hành nạo vét, cải tạo. Dịch vụ khắc phục và cải tạo ô nhiễm không khí: Hiện tại ở Việt Nam chưa có doanh nghiệp nào cung cấp dịch vụ khắc phục và cải tạo ô nhiễm không khí. Loại hình này chỉ đang dừng lại ở các đề án nghiên cứu đánh giá ô nhiễm không khí tại các thành phố lớn và đề xuất giải pháp. Trong trường hợp các đề án này đưa được ra các giải pháp và thử nghiệm thành công thì sẽ mở ra một hướng phát triển cho mảng dịch vụ này ở Việt Nam. Dịch vụ khắc phục sự cố tràn dầu: Hiện nay ở Việt Nam chưa có doanh nghiệp chuyên cung cấp loại hình dịch vụ này vì chi phí đầu tư rất lớn nhưng nhu cầu thì rất ít mà thường là một vài doanh nghiệp khai thác, chế biến dầu khí được huy động tham gia khi có sự cố. Dịch vụ cải tạo môi trường của mỏ khai thác tài nguyên sau khi dừng hoạt động: Loại hình dịch vụ này thường được các công ty khai thác mỏ tự thực hiện. Luật của Việt Nam quy định chưa khắt khe, chi tiết về tiêu chuẩn môi trường của mỏ sau khi dừng hoạt động. Vì thế các hoạt động cải tạo môi trường thường được thực hiện một cách đối phó, tiết kiệm chi phí. Nhìn chung, so với các nhóm doanh nghiệp dịch vụ môi trường khác, số lượng doanh nghiệp cung cấp loại dịch vụ khắc phục và cải tạo môi trường ít hơn nhiều (chỉ chiếm khoảng 9%), vướng mắc chủ yếu ở đây là vẫn chưa có quy định thống nhất, hoàn chỉnh về tài chính dành riêng cho công tác này, các quy định pháp luật chưa đủ mạnh để phát triển nhu cầu của thị trường.

    Dịch vụ phát triển, chuyển giao công nghệ sản xuất than thiện với môi trường, công nghệ môi trường: Theo số liệu điều tra, khảo sát, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ này chiếm khoảng 6%, từ các công ty thương mại chuyên nhập khẩu thiết bị, dây chuyền công nghệ nước ngoài đến các Viện nghiên cứu, các đơn vị sự nghiệp của các Trường đại học, của Bộ Khoa học và Công nghệ v.v…Đây là loại hình dịch vụ mà nhân lực thực hiện đòi hỏi trình độ học vấn cao (đối với các nhân sự phụ trách kỹ thuật), ngoại ngữ giỏi và am hiểu thương mại quốc tế (đối với nhân sự phụ trách thương mại). Hiện nay, các doanh nghiệp tư nhân trong nước đang làm rất tốt việc liên kết với các công ty nước ngoài để cung cấp và chuyển giao công nghệ môi trường, hầu như chưa có doanh nghiệp vừa tự đầu tư nghiên cứu rồi chuyển giao công nghệ sản xuất thân thiện với môi trường. Theo đánh giá chung, phần lớn các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tính chuyên nghiệp hóa chưa cao, mới chỉ tập trung vào việc bán hàng chưa tập trung vào các sản phẩm dịch vụ sau bán hàng nên trong nhiều trường hợp làm mất lòng tin từ người sử dụng.

    Dịch vụ kiểm toán môi trường: Theo số liệu tổng hợp kết quả điều tra, khảo sát, hiện nay các doanh nghiệp thực hiện dịch vụ kiểm toán môi trường chỉ chiếm gần 1% trong tổng số các doanh nghiệp thực hiện dịch vụ môi trường. Nguyên nhân các doanh nghiệp chưa đầu tư kinh doanh dịch vụ này, vì hiện nay tại Việt Nam chưa có yêu cầu bắt buộc các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thực hiện kiểm toán môi trường. Kiểm toán môi trường thường xuất phát từ yêu cầu của các khách hàng thuộc khối EU, Bắc Mỹ, Nhật Bản. Ví dụ để xuất khẩu vào EU, thì khách hàng (Công ty NK của EU) yêu cầu phải có kiểm toán môi trường (bên cạnh các chứng chỉ ISO 14001, SA8000…); để xuất khẩu vào hệ thống siêu thị Wal-Mart trên thế giới, doanh nghiệp Việt Nam phải làm KTMT theo Wal-Mart Standards. Chính những yêu cầu này là nền tảng hình thành thị trường dịch vụ này. 

    Nguyễn Gia Đễ

  • Trở lại
  • Hỗ trợ trực tuyến
  • Hỗ trợ tư vấn
  • Hotline: 0243 7327 155
  • Hỗ trợ tư vấn
  • Hotline: 0243 7327 155
  • Quảng cáo